Thai trứng là gì?

Thai trứng một hiện tượng mang thai bất thường, do sự phát triển không tương đồng của thai và những phần phụ của thai: tế bào nuôi phát triển quá nhanh, tổ chức liên kết và các mạch máu nhau gai không phát triển kịp. Gai nhau bị thoái hóa, phù nề thành các túi chứa dịch màu trắng trong, mỗi túi có một cuống nhỏ dính vào nhau như chùm nho.

Có hai loại thai trứng: thai trứng toàn phần và thai trứng bán phần.

Thai trứng toàn phần hiếm gặp đối với phụ nữ da trắng, nhưng lại thường gặp hơn ở phụ nữ Đông Nam Á. Đối với loại thai trứng này, không có phôi ở trong túi thai, nhưng hầu hết mô nhau phát triển nhanh một cách không kiểm soát được, biến thành túi trứng.

Thai trứng bán phần phổ biến hơn và thường giống với sảy thai không hoàn toàn: có tổ chức thai hoặc một phần thai, một phần gai nhau biến thành túi nước, một phần vẫn không thoái hóa.

Triệu chứng của thai trứng

Ban đầu, người mang thai trứng cũng có những biểu hiện như mang thai bình thường: mất kinh, ốm nghén. Tuy nhiên, chứng ốm nghén của người mang thai trứng thường rất nặng, nôn dữ dội, có thể kèm theo chứng phù, người gầy yếu, mệt mỏi.

Hiện tượng ra máu âm đạo sẽ bắt đầu từ khoảng tháng thứ hai đến tháng thứ tư và kéo dài, kèm theo đau bụng từng cơn khiến dễ bị chẩn đoán nhầm là dọa sảy thai. Ở khoảng một nửa số người mang thai trứng, kích thước tử cung to hơn so với tuổi thai.

Thai trứng có thể được phát hiện nhờ siêu âm (không nghe thấy tim thai, không thấy hình ảnh phôi thai mà chỉ thấy các túi dịch). Lượng hCG trong máu của bệnh nhân thai trứng cũng thường rất cao so với mang thai thông thường.

Điều trị

Khi phát hiện thai trứng, cách điều trị thông thường là nạo, hút sạch thai trứng khỏi tử cung. Việc phát hiện và xử lý kịp thời sẽ có hiệu quả cao, ít tốn kém và bảo vệ khả năng sinh sản của bệnh. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, thường người bệnh sẽ bị sảy thai tự nhiên, chảy máu rất nhiều, gây băng huyết.

Sau khi nạo thai trứng, thống kê cho thấy trên 80% các trường hợp mang thai trứng tiến triển tốt, tức bệnh khỏi sau khi đã nạo hết nhau thai. Nồng độ hCG giảm nhanh và trở về mức bình thường sau 1-2 tháng.Tuy nhiên, 20% còn lại của bệnh diễn tiến xấu, có thể gây thủng tử cung làm máu tràn ổ bụng, rất nguy hiểm. Ngoài ra,  trong một số trường hợp, thai trứng có thể phát triển thành ung thư. Đây là loại ung thư ác tính, có thể di căn toàn thân và tỉ lệ tử vong cao, cần phải điều trị chuyên khoa.

Chăm sóc điều trị thai trứng

Sau khi nạo hút thai trứng, người bệnh sẽ được theo dõi một cách chặt chẽ. Nồng độ hCG trong máu sẽ được định lượng mỗi tuần một lần cho đến khi xuống âm tính. Sau khi đã xuống âm tính, khoảng cách giữa hai lần định lượng hCG sẽ được phép dãn ra: 2 tuần một lần, kéo dài trong 3 tháng, sau đó là 1 tháng một lần trong 6 tháng tiếp theo. Trong năm tiếp theo, mỗi 2 tháng định lượng hCG một lần. Người đã từng bị thai trứng chỉ nên mang thai trở lại sau 2 năm được theo chặt chẽ này, hay ít nhất cũng phải sau 1 năm.

Trước khi mang thai trở lại, người từng bị thai trứng cần khám sức khỏe tổng quát cũng như khám sản phụ khoa, tiến hành một số các xét nghiệm để đánh giá khả năng mang thai an toàn trở lại. Nếu bệnh đã khỏi hoàn toàn và nồng độ hCG trong cơ thể trở về mức âm tính, có khả năng mang thai an toàn trở lại là hoàn toàn có thể.

Phòng ngừa:

Nguyên nhân của thai trứng vẫn chưa được biết rõ, nên cách phòng bệnh tốt nhất vẫn là thực hiện sinh đẻ có kế hoạch; không nên mang thai quá sớm (trước 20 tuổi) hoặc quá muộn (sau 40 tuổi); đồng thời cần duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, bổ sung axit folic và các vitamin cho cơ thể từ ít nhất là 3 tháng trước khi mang thai.